Đăng lúc: 15:07:14 03/11/2016 (GMT+7)

Một số khó khăn và biện pháp nâng cao hiệu quả tuyển sinh và liên kết đào tạo không chính quy ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Thanh Hoá.

 
Thanh Hoá là một tỉnh đất rộng, người đông. Diện tích tự nhiên khoảng 11.106 km², đứng thứ 6 trong cả nước, chia làm 3 vùng: đồng bằng ven biển, trung du và miền núi. Theo Niên giám Thống kê Thanh Hóa năm 2014, tỉnh Thanh Hoá có 3.496.600 người, là tỉnh có số dân đông thứ ba trong cả nước (sau thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội) và là tỉnh đông dân nhất so với sáu tỉnh Bắc Trung Bộ. Thanh Hoá là tỉnh có nhiều đơn vị hành chính nhất cả nước với 27 đơn vị hành chính cấp huyện và tương đương, có 579 xã, 30 phường, 28 thị trấn và 6.031 thôn, xóm, bản làng; trong đó có 184 xã miền núi và 12 thị trấn miền núi (số liệu năm 2014). Tỉnh có 6 huyện, thị xã thuộc vùng ven biển, 11 huyện thuộc vùng núi và 10 huyện, thị xã, thành phố thuộc vùng đồng bằng...
Thực hiện chủ trương “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực...” của Đảng Cộng sản Việt Nam, tất yếu chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều nội dung, áp dụng nhiều hình thức với nhiều giải pháp tiên tiến, khoa học và linh hoạt khác nhau. Để làm được điều đó, theo kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đã cho chúng ta thấy: cần phải xây dựng cho được một nền giáo dục mang tính đại chúng, trong đó phải coi việc học tập thường xuyên, học tập liên tục, học tập suốt đời là con đường tất yếu để nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực. 
Cùng với việc quan tâm đúng mức đến hệ đào tạo chính quy, một xã hội học tập còn phải chú trọng phát triển hệ thống đào tạo không chính quy, có như vậy mới có thể đáp ứng được nhu cầu học tập của đại đa số con người trong xã hội. Thực hiện mô hình hệ thống đào tạo không chính quy là giải pháp thiết thực để tiến tới một nền giáo dục mang tính đại chúng. Đặc biệt với một địa phương đông dân cư, điều kiện tự nhiên và xã hội còn gặp nhiều khó khăn như Thanh Hoá thì con đường nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực theo hệ thống đào tạo không chính quy sẽ là con đường không thể thiếu, hơn thế nữa nó sẽ là con đường thiết thực nhất để tiến tới một xã hội học tập, tiếp cận với một xã hội tân tiến, văn minh (Lịch sử Thanh Hoá về quá trình đào tạo nhân lực, phát triển nhân tài cũng đã chứng minh điều đó).
Trong xu thế mới của thế giới, nền giáo dục đã có những biến đổi to lớn. Một trong những biến đổi lớn đó là lấy “học thường xuyên suốt đời” làm nền móng, nhằm hướng tới xây dựng một “xã hội học tập”. Nếu như các cơ sở giáo dục đại học trước đây chỉ tập chung đào tạo vào số ít người thì gần đây đã chuyển hướng sang đào tạo cho số đông người và tất nhiên nếu cơ sở giáo dục đại học nào quan tâm trước đến vấn đề này (đào tạo cho số đông người) thì cơ sở giáo dục đó sẽ có sự trưởng thành và phát triển trước.
Hiện tại ở Việt Nam nói chung và Thanh Hoá nói riêng hoạt động đào tạo không chính quy đang khá phổ biến với nhiều con đường, nhiều hình thức đào tạo khác nhau; nhiều cơ sở cùng tham gia đào tạo cùng một lĩnh vực (trong tỉnh có, ngoài tỉnh có, có cả cơ sở giáo dục nước ngoài cũng tham gia đào tạo), nhiều cơ sở giáo dục không có chức năng đào tạo, không có điều kiện (tư cách pháp nhân, cơ sở vật chất...), không được cấp phép đào tạo cũng tham gia đào tạo, dẫn đến trong đào tạo và liên kết đào tạo có những cạnh tranh không làng mạnh. Một số cơ sở lấy việc mở được lớp học là mục đích cuối cùng dẫn đến họ triển khai mở lớp, học chui, thu tiền vô tội vạ, trốn tránh sự kiểm soát của các nhà quản lý bằng nhiều hình thức (bị bắt và phạt lớp này sẽ có lớp khác bù)... Nhiều đơn vị chủ trì đào tạo cùng tham gia tuyển sinh một ngành, một nghề; hình thức tuyển sinh, mức thu học phí, lệ phí của từng đơn vị có nhiều khác biệt với nhau (giao động khoảng từ 4 triệu - 10 triệu/SV/Năm).
Hình thức tổ chức đào tạo, kế hoạch đào tạo của một số đơn vị chủ trì đào tạo không được ổn định, thay đổi nhiều gây khó khăn cho đơn vị liên kết và khó khăn cho người học.
Việc chấp hành kế hoạch lên lớp của Giảng viên (đi dạy muộn, về sớm) và chất lượng đào tạo của một số đơn vị chủ trì đào tạo tại các cơ sở liên kết cũng còn có nhiều vấn đề cần phải xem xét.
Việc một số đơn vị chủ trì đào tạo phối hợp không tốt với cơ sở liên kết trong khâu quản lý sinh viên (quy định thêm một số hoạt động ngoài hợp đồng) cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo và công tác tuyển sinh các lớp mới.
Nhiều đơn vị chủ trì đào tạo không chính quy nhưng lại áp dụng nhiều quy chế của đào tạo chính quy hoặc là áp dụng quy chế riêng theo chủ quan của đơn vị mình mà không thống nhất với đơn vị liên kết đào tạo.
Mấy năm gần đây việc xin chủ trương, kế hoạch đào tạo và liên kết đào tạo gặp khó khăn hơn: Thời gian làm thủ tục xin mở lớp phải chờ đợi lâu (vài tháng); thủ tục xin mở lớp có những quy định mà nhiều đơn vị chủ trì đào tạo không đồng tình (ví dụ phải có văn bản của Bộ Giáo dục cho phép đơn vị chủ trì đào tạo còn chỉ tiêu, được phép đào tạo với hình thức “X”, trong năm “Z” và ngành “N” ở địa phương); việc tham gia giao dịch để xin mở lớp còn phụ thuộc nhiều vào ý chủ quan và điều kiện làm việc của bộ phận tham mưu ở các cấp dẫn đến các thủ tục và thời gian xin mở lớp thường bị thay đổi và kéo dài nhiều.
Có thể nói cùng với việc nhu cầu học tập nâng cao của người dân nói chung hiện nay có giảm nhưng những thực trạng về tuyển sinh và đào tạo không chính quy nói trên đã có ảnh hưởng không nhỏ và gây thiếu tin tưởng (hoài nghi) cho người học, gây hoang mang do dự cho người dân, dẫn đến công tác tuyển sinh ở địa phương gặp nhiều khó khăn, hiệu quả đào tạo có phần giảm sút.
Để từng bước tháo gỡ những khó khăn, khắc phục những vấn đề còn hạn chế trong công tác tuyển sinh và nâng cao chất lượng đào tạo không chính quy nêu trên. Tôi xin đề xuất một số biện pháp sau:
1. Phải có đội ngũ chuyên gia tuyển sinh: 
Đây là đội ngũ nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng của Ngành về giáo dục và đào tạo; nắm vững chức năng nhiệm vụ, uy tín, thương hiệu cũng như các quy định, kế hoạch và lề lối làm việc của các đơn vị chủ trì đào tạo; Nắm vững quy định, thủ tục và cách thức về yêu cầu mở lớp của các cấp quản lý (địa phương và trung ương). Năng động, sáng tạo nhưng phải linh hoạt, mềm dẽo và có kỹ năng thuyết phục đối tượng. Với yêu cầu đó, các cấp quản lý cũng cần có cơ chế chủ động, chính sách, chế độ đãi ngộ thoả đáng, ưu tiên hàng đầu đối với đội ngũ chuyên gia trong hoạt động điều tra, khảo sát, tư vấn truyển sinh; đơn vị chủ trì đào tạo và đơn vị liên kết đào tạo cần phải có đầu tư thoả đáng và phối hợp chặt chẽ trong công tác tuyển sinh. Các đơn vị và cá nhân có liên quan cần có sự phối hợp nhịp nhàng, trách nhiệm, công khai minh bạch kế hoạch, thủ tục và lề lối làm việc (thực tế mấy năm gần đây cơ quan đã có cơ chế rõ ràng, nhưng những cá nhân thực thi nhiệm vụ còn nặng tính chủ quan, thiếu tin tưởng nhau, không minh bạch các thủ tục và lề lối làm việc dẫn đến còn có bất cập, hiệu quả tuyển sinh không cao).
2. Tổ chức học cấp chứng nhận chuyển đổi ngành nghề, học thêm bằng 2, 3...:
Thực tế hiện nay trên toàn quốc số người được đào tạo có bằng cấp chưa có việc làm là khá phổ biến. Riêng ở Thanh Hoá có trên 24.000 người được đào tạo có bằng cấp (từ Trung cấp trở lên) chưa có việc làm hoặc đang làm việc ở những môi trường không đúng chuyên môn đào tạo (số liệu do Trung tâm GDTX tỉnh Thanh Hoá điều tra năm 2015). Do vậy, nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực nâng cao trình độ (liên thông từ Trung cấp, Cao đảng lên), hoặc học thêm bằng 2, bằng 3 (ngành phù hợp với công việc mới) là rất lớn. Để đón được đối tượng này, các đơn vị chủ trì đào tạo phải chủ động có chương trình dạy và cấp chứng chỉ (chứng nhận) chuyển đổi ngành nghề tương đương giúp người học đủ điều kiện học liên thông (ví dụ học chuyển đổi bằng Trung cấp Kế toán thành Trung cấp Luật). Có chương trình giảm tải phù hợp để cho đối tượng có nhu cầu học chuyển đổi đại học bằng 2, bằng 3. Có như vậy mới thu hút được nhiều người học trong hoàn cảnh vừa làm vừa học.
3. Chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo:
Thông thường đi dạy xa trường, việc quản lý dạy và học của đơn vị chủ trì đào tạo sẽ gặp khó khăn hơn, thực tế cũng chứng minh cho chúng ta thấy nhìn chung chất lượng đào tạo không chính quy không bằng chất lượng đào tạo chính quy (xin được miễn bàn nguyên nhân ở đây). Do vậy, đơn vị chủ trì đào tạo cần có quan tâm đúng mức đến khâu quản lý hoạt động dạy và học, cần chọn cử cán bộ, giáo viên giỏi, có điều kiện, cần có biện pháp động viên khuyến khích và nâng cao trách nhiệm của cán bộ, giáo viên đi làm nhiệm vụ xa trường nhằm từng bước nâng cao dần chất lượng đào tạo. Thực hiện tốt các nghi thức, nghi lễ theo quy định trong đào tạo (như: khai, bế giảng và phát bằng...). Đây cũng chính là cơ sở, là điều kiện thuận lợi để làm tốt công tác tuyển sinh trong những năm tiếp theo.
4. Trên cơ sở của những quy định chung, tổ chức học và thi linh hoạt, mềm dẻo phù hợp với nhu cầu chính đáng của người học:
Với đặc trưng nêu trên, đại đa số người học là vừa làm vừa học, công việc làm của một số người lại phải thay đổi thường xuyên, cơ hội để nắm bắt thông tin về học tập nâng cao cũng không được nhiều, nhiều cơ sở cùng tham gia tuyển sinh và đào tạo... dẫn đến cơ hội được đi học nâng cao phụ thuộc nhiều vào thời điểm tuyển sinh, địa điểm, hình thức và thời gian học..., nếu không có cơ chế học và thi linh hoạt, mềm dẻo phù hợp với nhu cầu chính đáng của người học, chắc chắn việc duy trì sĩ số sinh viên trong lớp học sẽ gặp nhiều khó khăn. Vậy nên, các đơn vị chủ trì đào tạo cần thiết kế được thời điểm thi (xét) tuyển sinh liên tục và hợp lý; có kế hoạch thuận tiện cho sinh viên học bù, thi hết môn bù (có thể mở lớp học, lớp thi chung cho nhiều khoá để học bù, thi bù môn, tích dần, tích đủ tín chỉ).
5. Có giải pháp hỗ trợ sinh viên có khó khăn:
Đại đa số người học còn có khó khăn nhất định trong sinh hoạt và công việc, không ít người học có mức thu nhập thấp, gia đình ở xa nơi học, đi lại khó khăn, vừa làm vừa học, vừa làm chủ gia đình. Do vậy các đơn vị chủ trì đào tạo nên giảm học phí, lệ phí đến mức có thể; cùng với đơn vị liên kết đào tạo tạo thêm điều kiện nơi ăn nghỉ cho sinh viên, hỗ chợ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn cố gắng trong học tập thông qua quỹ Khuyến học, xã hội hoá ... trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể cho người học. Xây dựng kế hoạch học tập hợp lý, giảm bớt thời gian đi lại bất hợp lý của sinh viên.
6. Ổn định kế hoạch dạy học:
Việc thay đổi kế hoạch dạy học đột xuất của sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch của đơn vị liên kết, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt và kế hoạch cá nhân của người học, gây khó khăn và tốn kém thêm cho người học; do vậy kế hoạch dạy và học phải được duy trì ổn định, được sắp xếp khoa học, hợp lý (trên cơ sở tạo điều kiện để người học không phải đi lại nhiều) và phải được công khai sớm. Hạn chế tối đa việc thay đổi kế hoạch dạy và học.
Theo kinh nghiệm nhiều năm quản lý liên kết đào tạo không chính quy: cả 2 bên: (đơn vị chủ trì và đơn vị liên kết) phải có một tổ chức chuyên biệt làm kế hoạch và trực tiếp quản lý kế hoạch dạy và học. Tránh tình trạng mỗi đơn vị lại có một số tổ chức (bộ phận) cùng trực tiếp làm kế hoạch và quản lý kế hoạch dạy và học làm giảm tính thống nhất trong kế hoạch, gây khó khăn trong công tác phôí hợp thực hiện kế hoạch. Đơn vị nào có nút thông tin về liên kết đào tạo tập trung vào một mối, đơn vị đó sẽ quản lý liên kết đào tạo một cách hiệu quả.
7. Thống nhất các quy định và lề lối làm việc:
Trên cở sở các quy định và hướng dẫn thực hiện của các cấp quản lý, mọi quy định, lề lối trong kế hoạch dạy học, trong quản lý sinh viên phải được thoả thuận thống nhất cả hai đơn vị liên kết đào tạo. Tránh tình trạng các quyết định có liên quan đến đơn vị liên kết, liên quan đến sinh viên (ngoài quy định, ngoài hợp đồng) khi ban hành không được sự thống nhất của các bên tham gia, hoặc mỗi Giảng viên tham gia dạy lại có một quy định riêng. 
Việc xét điều kiện học và thi, đánh giá thi đua khen thưởng... nhất thiết phải có ý kiến của đơn vị liên kết.
8. Tăng cường công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo không chính quy:
Như đã nêu ở phần trên, hoạt động liên kết đào tạo không chính quy ở địa phương đang diễn ra tương đối phức tạp (mở nhiều lớp, không đúng quy trình, không đủ điều kiện...) chất lượng đào tạo không đảm bảo, xuất hiện các tiêu cực trong thu, chi, gây bức xúc trong xã hội, làm ảnh hưởng đến các cơ sở giáo dục hoạt động đoàng hoàng, chân chính; có cơ sở đào tạo hoạt động chui lủi ngoài vòng pháp luật... Do vậy, các cấp quản lý cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; cương quyết không cấp phép đào tạo hoặc liên kết đào tạo cho các cơ sở không thực hiện đúng quy trình hoạt động, xử lý nghiêm hoặc truy tố (nếu có dấu hiệu phạm tội) những cơ sở hoặc cá nhân vi phạm nhiều lần hoặc vi phạm ở mức độ nghiêm trọng các quy định.
Các cấp quản lý nên ưu tiên giao nhiệm vụ cho các cơ sở giáo dục có tư cách pháp nhân, đủ điều kiện cơ sở vật chất, chấp hành nghiêm các quy định của Ngành và của Địa phương. Đồng thời cũng minh bạch hơn trong chỉ đạo hoàn thiện thủ tục, hồ sơ, lề lối làm việc; trên cơ sở tạo điều kiện một cách hợp lý và giảm tối đa thời gian xem xét, quyết định cho việc mở lớp liên kết đào tạo của các cơ sở giáo dục.
Có thể đã có nhiều ý kiến bàn về các biện pháp đã nêu, nhưng việc áp dụng đồng bộ các biện pháp nêu trên chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả không nhỏ trong công tác tuyển sinh và đào tạo hệ đại học không chính quy tại Thanh Hoá. Tuỳ từng thời điểm và tuỳ từng môi trường đào tạo cụ thể chúng ta cũng có thể phổ biến các biện pháp nêu trên cùng với các biện pháp đặc thù khác ở các khu vực khác nhau trên toàn quốc.
                                                                           Trần Văn Hạnh
                                                Phó Giám đốc Trung tâm GDTX tỉnh Thanh Hoá.
 
Hôm nay:
76
Hôm qua:
398
Tuần này:
808
Tháng này:
3596
Tất cả:
570824